Hiển thị các bài đăng có nhãn De an bao ve moi truong chi tiet. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn De an bao ve moi truong chi tiet. Hiển thị tất cả bài đăng

BÁO CÁO HOÀN THÀNH ĐỀ ÁN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

0 nhận xét

Đối với các Doanh nghiệp, cơ sở đã thực hiện đề án bảo vệ môi trường, sau khi hoàn thành công trình, biện pháp bảo vệ môi trường, phảilập hồ sơ đề nghị kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết và gửi đến cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt đã phê duyệt đề án bảo vệ môi trường để kiểm tra, xác nhận việc thực hiện.

2/ Hồ sơ gồm:
a) Một (01) văn bản đề nghị kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết của cơ sở theo mẫu quy định tại Phụ lục 11 Thông tư 01/2012/TT-BTNMT.
b) Năm (05) báo cáo kết quả thực hiện đề án bảo vệ môi trường của cơ sở theo mẫu quy định tại Phụ lục 12 thông tư 01/2012/TT-BTNMT. Đối với cơ sở hoạt động khai thác khoáng sản thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 13 kèm thông tư 01/2012/TT-BTNMT này. Đối với cơ sở hoạt động về thủy lợi, thủy điện có công trình hồ chứa thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 14 thông tư 01/2012/TT-BTNMT.
3. Cơ quan nộp phê duyệt
Đối với Cơ sở lập đề án bảo vệ môi trường chi tiết nộp Sở Tài nguyên Môi trường.
Đối với Cơ sở lập đề án bảo vệ môi trường đơn giản nộp Phòng Tài nguyên Môi trường huyện.
Đối với các Cơ sở nằm trong khu Công nghiệp tại TP.HCM nộp HepZa.

LẬP HỒ SƠ KHAI THÁC SỬ DỤNG NƯỚC MẶT

0 nhận xét

1.      ĐỐI TƯỢNG LẬP HỒ SƠ KHAI THÁC SỬ DỤNG NƯỚC MẶT
-         Các Cơ sở hoạt động trong nước có  các  hoạt  động  liên  quan đến việc sử dụng nguồn nước mặt.

-         Thu thập số liệu cần thiết cho việc lập đề án/báo cáo và khảo sát thực địa khu vực Cơ sở.
-         Thu thập và tổng hợp tài liệu về đặc điểm nguồn nước khu vực khai thác.
-         Tiến hành đo đạc, lấy mẫu và xác định tọa độ các điểm (khai thác, vị trí phân phối sử dụng nước tại Cơ sở).
-         Nghiên cứu, tính toán, thống kê lưu lượng nước cần khai thác để sử dụng tại Cơ sở.
-         Nghiên cứu, tổng hợp dữ liệu để xác định phương thức khai thác, sử dụng nước.
-         Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của việc khai thác, sử dụng nước tới nguồn nước, môi trường và các đối tượng sử dụng nước khác.
-         Hoàn thành các bản vẽ.
-         Tổng hợp số liệu và hoàn thành Đề án/Báo cáo.
-         Nộp đề án/báo cáo cho cơ quan nhà nước theo quy định.
2.      CƠ QUAN TIẾP NHẬN CẤP GIẤY PHÉP
-         Cục  Quản lý  tài nguyên nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu  trách nhiệm tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp.
-         Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm tiếp nhận và quản lý hồ sơ, giấy phép do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp.
CÔNG TY CỔ PHẦN – TƯ VẤN – ĐẦU TƯ CAO NGUYÊN XANH
Địa chỉ :     14/88 Đường 19, Phường Tân Quý, Quận Tân Phú, TP.HCM
Điện thoại :08 3559 1848 (6 line) - 091 994 0018
Email :      info@CaoNguyenXanhGroup.com
Website:    CaoNguyenXanh.info

CÔNG TY TƯ VÂN MÔI TRƯỜNG - LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ

0 nhận xét

Bạn muốn thành lập công ty?. Công ty bạn đã đi vào hoạt động muốn mở rộng quy mô, đầu tư công nghệ nâng cao năng suất và tăng chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên bạn luôn lo lắng làm thế nào để phát hiện, ngăn chặn những dự án xấu, không để thất thoát vốn đầu tư? Cần đầu tư ra sao để mang lợi nhuận cao nhất?
Hiện nay Cao Nguyên Xanh với nhiều năm uy tín trong lĩnh vực: Lập dự án đầu tư cùng đội ngủ chuyên gia kinh nghiệm, nhiệt tình, Chúng tôi luôn tập hợp những ý tưởng mang tính khoa học, đề xuất những giải pháp, mang tính thực tiễn giúp quý doanh nghiệp đạt được mục tiêu phát triển kinh tế bền vững trong tương lai. Vì chúng tôi thấu hiểu lập dự án đầu tư ban đầu có tính chất quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp bạn.
Chúng tôi cam kết mang đến cho bạn sự an tâm về chất lượng và đảm bảo về pháp lý. Với Cao Nguyên Xanh mọi lo lắng của bạn sẽ được giải quyết.
Đến với Cao Nguyên Xanh: bạn hoàn toàn yên tâm và hài lòng về chất lượng dịch vụ mà chúng tôi mang lại:
  • Giá cả tốt nhất
  • Chất lượng tối ưu
  • Thời gian nhanh chóng
Hãy gọi ngay cho chúng tôi mọi yêu cầu khắc khe, phức tạp nhất của quý khách hàng sẽ được đáp ứng.Tất cả vì lợi ích chung của khách hàng!
Cao Nguyên Xanh niềm tin vững bền!
Chúng tôi hi vọng sẽ có cơ hội phục vụ quý khách hàng tại địa chỉ quen thuộc:
Công ty cổ phần đầu tư vấn môi trường Cao Nguyên Xanh
14/88 Đường 19, Phường Tân Quý, Quận Tân Phú, TP.HCM
Điện thoại: 091 994 0018

Báo cáo giám sát - lũ về các tỉnh miền Bắc

0 nhận xét


Chiều 19/7, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn T.Ư cho biết, sau khi đổ bộ vào khu vực Móng Cái (Quảng Ninh), giáp biên giới Việt - Trung, bão số 2 đi sâu vào các tỉnh miền núi Bắc bộ, rồi suy yếu và tan dần. - Đề án môi trường
Ngay sau khi cơn bão đi qua, UBND tỉnh Quảng Ninh đã có đề án bào vệ môi trường chi tiết chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục kiểm tra thực tế tại các khu dân cư xác định thiệt hại do bão gây ra, huy động lực lượng giúp dân sửa nhà ổn định cuộc sống sau bão.


Trong khi đó, trên hệ thống sông Hồng-Thái Bình có khả năng xuất hiện đợt lũ, với biên độ ở thượng lưu lên từ 2-6m, hạ lưu 2-4m.đề án bào vệ môi trường chi tiết  Đáng lưu ý, các sông nhỏ vùng núi thuộc tỉnh Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai có khả năng lên mức báo động 2 đến báo động 3.

Tuy nhiên,theo báo cáo giám sát bão sẽ gây một đợt mưa lớn ở các tỉnh miền Bắc, nhất là các tỉnh vùng núi, nguy cơ lũ quét, sạt lở đất trên diện rộng rất cao. Đến chiều qua, một số khu vực ở đông bắc đã mưa to đến rất to, lượng mưa phổ biến 10-70 mm. Một số nơi có mưa lớn trong 12 giờ như: Đình Lập (Lạng Sơn) 107mm, Sơn Động (Bắc Giang) 109mm, riêng Mẫu Sơn (Lạng Sơn) 350mm (trong 16 giờ).

Theo UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết lúc 6 giờ sáng 19/7, bão số 2 đã đổ bộ vào khu vực biên giới Việt Trung giữa TP Móng Cái và TP cảng Phòng Thành (Trung Quốc) với sức gió giật cấp 10 sau đó suy yếu và đi sâu vào đất liền- đề án bào vệ môi trường chi tiết 

Mặc dù bão không đổ bộ trực tiếp nhưng TP Móng Cái và một số huyện lân cận cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi gió lớn kèm màn mưa dày đặc, nhiều mái tôn bị tốc, nhiều cây xanh bị bật gốc, gãy đổ. UBND tỉnh Quảng Ninh ước tính con số thiệt hại do bão số 2 thống kê tới trưa 19/7 là 2 tỷ đồng.


Nước lũ tràn về phía hạ du khiến hàng chục hộ dân làng Bi hoảng loạn tháo chạy. Nước lũ lên rất nhanh gây chìm hoa màu, tài sản của dân.
Chị Đặng Thị Kim Dung (SN 1961) bị nước lũ cô lập không thoát ra ngoài, phải trèo lên cây cao. Lực lượng chức năng huyện Đức Cơ tìm cách tiếp cận đưa ra ngoài.

 Theo báo cáo giám sát thì các cơ quan đã chuẩn bị các phương tiện cứu hộ cứu nạn.
Khoảng 60 cán bộ, công nhân đội 20, Công ty 72 (Binh đoàn 15) bị cô lập do nước suối Đôi lên cao làm ngập cầu treo.
Tính đến 13h chiều nay, chính quyền các cấp và công ty đang tổ chức sơ tán người dân, thực hiện các biện pháp khẩn cấp khắc phục sự cố.
Hiện hầu như toàn lực lượng cán bộ của xã Ia Krêl, lãnh đạo huyện Đức Cơ và tỉnh Gia Lai để bảo vệ mội trường theo thực hiện đề án đề án bào vệ môi trường chi tiết 

Thủy điện Ia Krel 2 do Công ty cổ phần Điện và Công nghiệp Bảo Long thi công tại xã Ia Dom, huyện Đức Cơ tiếp tục bị vỡ vào khoảng 8h sáng nay (1/8), gây lũ quét kinh hoàng và thiệt hại rất lớn cho vùng hạ du.
Thông tin ban đầu từ hiện trường cho biết, đợt lũ quét do vỡ đập lần này tại thuỷ điện Ia Krêl 2 còn lớn hơn so với hồi tháng 6/2013.

Công ty tư vấn môi trường đưa ra một số vấn đề về ô nhiễm mạch nước ngầm

0 nhận xét

Những năm qua, tình trạng người dân khoan giếng tràn lan không theo quy định của pháp luật, còn chính quyền và ngành chức năng buông lỏng quản lý đã dẫn đến nguồn nước ngầm bị cạn kiệt và nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngày càng cao.
cam ket bao ve moi truong
Hồi tháng 1 vừa qua, một báo cáo về nguồn nước ngầm ở khu vực đồng bằng sông Hồng của các chuyên gia quốc tế cho thấy những con số đáng ngại bởi mức độ ô nhiễm khoáng chất rất cao trong khi rất nhiều người dân ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện đang sử dụng nước ngầm trong các sinh hoạt hàng ngày.

Các chuyên gia tư vấn môi trường đã thu thập mẫu từ 512 giếng đào trong khu vực để phân tích các chất asen, mangan, và các chất độc khác như selen và bari từ nguồn nước ngầm.

Các chuyên gia nghiên cứu môi trương xanh cho biết có đến 44% số giếng nước được lấy mẫu tại khu vực đồng bằng sông Hồng bị nhiễm mangan vượt quá mức cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới.
Theo số liệu của các công ty tư vấn môi trường đưa ra thì có tới 80% nguồn gốc của bệnh tật có liên quan tới nước .
- Theo số liệu của bộ y tế thế giới đưa ra thì có tới 80% nguồn gốc của bệnh tật có liên quan tới nước .
- Ngày nay với sự phát triển chóng mặt của các ngành công nghiệp hóa việc ô nhiễm nước thải - nguồn nước ngầm càng trở nên trầm trọng .
- Song hành với đó là sự nhận thức được sự ảnh hưởng của nguồn nước đối với cuộc sống của con người .
- Tùy theo từng khu vực sự ô nhiễm nguồn nước ngầm khác nhau vì vậy công ty tư vấn môi trường Cao Nguyên Xanh đã đưa ra các giải pháp xử lý phù hợp đối với từng nguồn nước khác nhau .
Nguyên nhân ô nhiễm môi trường???
cam ket bao ve moi truong
1. Do bị khoan quá nhiều
Về nguyên nhân dẫn đến việc nguồn nước cho Hà Nội bị nhiễm bẩn, theo phân tích của trung tâm xử lí nước thải, là do phải chịu quá nhiều lỗ khoan: Khoan thăm dò, khai thác, lỗ khoan cho xây dựng và cả một phần do khai thác nước nhiều. Nước khai thác nhiều dẫn tới nước chảy mạnh, tốc độ thấm nước nhanh hơn kéo theo các chất bẩn ngấm vào nguồn nước và tình trạng lún cục bộ ở các khu vực.
Giếng khoan của tư nhân sau khi không sử dụng đã không được lấp đúng cách khiến các chất độc hại theo đường giếng chui vào mạch nước ngầm cũng là nguyên nhân khiến nước ngầm của thành phố bị ô nhiễm.
Theo các chuyên gia tư vấn môi trường, thông thường các giếng đào mà người dân sử dụng thường rất nông. Mặt khác, ở khu vực này tập trung nhiều nhà máy sản xuất, các khu công nghiệp, nước thải nơi đây cũng đe dọa cho nguồn nước ngầm. Bên cạnh đó, khu vực ngoại thành lại là những vùng thấp, nguy cơ ô nhiễm kim loại xuống tầng nước dưới đất cao hơn. Ngay từ bây giờ, nếu không có hướng xử lý và giải quyết thì sẽ đe dọa lớn đến chất lượng nguồn nước ngầm và trực tiếp gây ảnh hưởng xấu đến người sử dụng. Các nhà tư vân môi trường thành phố cho biết: Các mẫu nước giếng ở khu vực trên không đạt, người dân sử dụng phục vụ cho ăn uống, tắm giặt do thường bố trí gần khu vực chăn nuôi, hố tiêu, hố rác, nơi trồng trọt có bón phân hữu cơ.
2. Khai thác quá mức
Trong nghiên cứu của công ty dịch vu môi trường Cao Nguyên Xanh, các nhà khoa học đã tiến hành hàng loạt các xét nghiệm xung quanh làng Vạn Phúc nằm sát sông Hồng cách Hà Nội khoảng 10 cây số.
Các nhà thủy học muốn tìm hiểu tại sao nồng độ thạch tín ở đây, vốn đo từ nước lấy từ các giếng nhà ở độ sâu khoảng 40 mét, tại sao lại cao như vậy.
Tại các hộ dân ở phía Tây làng, các giếng nhà có nồng độ thạch tín chưa đến 10 microgram (trong một lít nước – tức là thấp hơn nhiều so với ngưỡng cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới - Tổ chức cam kết bảo vệ môi trường thế giới.
Nhưng ở phía Đông làng, nồng độ thạch tín cao hơn từ 10 đến 50 lần.
cam ket bao ve moi truong
3. Nhiễm kim loại nặng
Ông Chương - Giám đốc công ty tư vấn dịch vu môi trường Cao Nguyên Xanh TP.HCM cho biết: Hầu hết các hộ dân sử dụng nguồn nước giếng trên địa bàn hiện nay đều không khử trùng nước. Qua khảo sát và lấy mẫu nước giếng ngẫu nhiên để kiểm nghiệm tại một số quận huyện trên địa bàn thành phố trong năm 2011, các mẫu nước giếng không đạt về độ vi sinh tập trung ở các quận, huyện: 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè. Về chỉ tiêu hóa lý, các mẫu nước giếng đa phần nhiễm bẩn hữu cơ (amoni, nitrat, nitrit,…) tập trung ở các quận, huyện: 12, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Bình Thạnh, Thủ Đức, Gò Vấp, Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè. Cũng theo kết quả quan trắc của Chi cục Bảo vệ môi trường TP.HCM thì, nồng độ sắt và chỉ tiêu nhiều kim loại nặng trong nước ngầm ở nhiều khu vực của thành phố đã vượt tiêu chuẩn cho phép.

CÁC CHẤT Ô NHIỄM KHÁC TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI

0 nhận xét

Xử lý đô pH của nước thải

pH của việc xử lý nước thải có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình xử lý. Các công trình xử lý nước thải áp dụng các quá trình sinh học làm việc tốt khi pH nằm trong giới hạn từ 7 ¸ 7,6. Như chúng ta đã biết môi trường thuận lợi nhất để vi khuẩn phát triển là môi trường có pH từ 7 ¸ 8. Các nhóm vi khuẩn khác nhau có giới hạn pH hoạt động khác nhau. Ví dụ vi khuẩn nitrit phát triển thuận lợi nhất với pH từ 4,8 ¸ 8,8, còn vi khuẩn nitrat với pH từ 6,5 ¸ 9,3. Vi khuẩn lưu huỳnh có thể tồn tại trong môi trường có pH từ 1 ¸ 4. Ngoài ra pH còn ảnh hưởng đến quá trình tạo bông cặn của các bể lắng bằng cách tạo bông cặn bằng phèn nhôm.
xử lý nước thải sản xuất các chất gây ô nhiễm
Nước thải cà phê trước xử lý                                        Nước thải cà phê sau xử lý 
Hệ thống xử lý nước thải cà phê Trung Nguyên do Dương Nhật thiết kế, thi công
Nước thải sinh hoạt có pH = 7,2 ¸ 7,6. Nước thải công nghiệp có pH rất khác nhau phụ thuộc từng loại công nghiệp.Các xí nghiệp sản xuất có thể thải ra nước thải có tính acid hoặc kiềm rất cao chẳng những làm cho nguồn nước không còn hữu dụng đối với các hoạt động giải trí như bơi lội, chèo thuyền mà còn làm ảnh hưởng đến hệ thủy sinh vật. Nồng độ acid sulfuric cao làm ảnh hưởng đến mắt của những người bơi lội ở nguồn nước này, ăn mòn thân tàu thuyền, hư hại lưới đánh cá nhanh hơn. Nguồn nước lân cận một số xí nghiệp có thể có pH thấp đến 2 hoặc cao đến 11; trong khi cá chỉ có thể tồn tại trong môi trường có 4,5 < pH < 9,5. Hàm lượng NaOH cao thường phát hiện trong xử lý nước thải sản xuất ở các xí nghiệp sản xuất bột giặt, thuộc da, nhuộm vải sợi... NaOH ở nồng độ 25 ppm đã có thể làm chết cá

 Các loại muối

Nhiều loại xí nghiệp có nước thải chứa hàm lượng muối khá cao; ngoài ra ở các nước ôn đới người ta còn dùng muối để rãi lên mặt đường vào mùa đông và muối bị rửa trôi vào hệ thống cống rãnh. Hàm lượng muối cao sẽ làm cho nguồn nước không còn hữu dụng cho mục đích cấp nước hay tưới tiêu, làm hoa màu bị thiệt hại và đất bị ô nhiễm.
Các loại muối khóang Ca, Mg còn làm cho nguồn nước bị "cứng", đóng cặn trong các đường ống gây thất thoát áp lực trên đường ống. Nước cứng làm ảnh hưởng đến việc nhuộm vải sợi, sản xuất bia và chất lượng của các sản phẩm đóng hộp. Nước cứng còn gây đóng vẩy trong các đường ống của lò hơi làm giảm khả năng truyền nhiệt. Magnesium sulfate gây xổ nhẹ ở người, ion chloride làm tăng độ dẫn điện của giấy cách điện, ion sắt gây các vết bẩn trên vải sợi và giấy, carbonat tạo vẩy cứng đóng trên đậu Hà Lan trong quá trình chế biến và đóng hộp chúng.
Các loại muối có chứa Nitrogen và phosphorus làm cho tảo phát triển nhanh gây hiện tượng tảo nở hoa, làm ảnh hưởng đến hệ thủy sinh vật và mất mỹ quan.

Các kim loại độc và các chất hữu cơ độc

Nước chảy tràn ở khu vực sản xuất nông nghiệp có chứa dư lượng thuốc trừ sâu và thuốc trừ cỏ, trong khi nước chảy tràn ở các khu đô thị chứa chì và kẽm (chì từ khói xe ô tô, kẽm từ việc bào mòn các lớp xe). Nhiều ngành công nghiệp thải ra các loại kim loại và chất hữu cơ độc khác. Các chất này có khả năng tích tụ và khuếch đại trong chuỗi thức ăn, do đó cần phải được quản lý tốt.
Hàm lượng chloride 4000 ppm gây độc cho cá nước ngọt, Cr6+ gây độc cho cá ở nồng độ 5 ppm. Đồng ở hàm lượng 0,1 ¸ 0,5% đã gây độc cho vi khuẩn và một số sinh vật khác. P2O5 ở nồng độ 0,5 ppm gây trở ngại cho quá trình tạo bông cặn và lắng trong các nhà máy nước. Phenol ở nồng độ 1 ppb đã gây nên vấn đề cho các nguồn nước.

Nhiệt

Các nước thải từ nhà máy nhiệt điện và lò hơi của một số ngành công nghiệp có nhiệt độ rất cao. Khi  thải ra môi trường, nó làm tăng nhiệt độ của các thủy vực ảnh hưởng đến một số thủy sinh vật và làm suy giảm oxy hòa tan trong nguồn nước (do khả năng bão hòa oxy trong nước nóng thấp hơn và vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ sẽ hoạt động mạnh hơn).

Màu (color)

Các nước thải từ nhà máy dệt, giấy, thuộc da, lò mổ... có độ màu rất cao. Nó có thể làm cản trở khả năng khuếch tán của ánh sáng vào nguồn nước gây ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của hệ thủy sinh thực vật. Nó còn làm mất vẽ mỹ quan của nguồn nước nên rất dễ bị sự phản ứng của cộng đồng lân cận.
Các chất tạo bọt (foam-producing matter)
Các nước thải từ nhà máy dệt, giấy, các nhà máy hóa chất có chưá các chất tạo bọt, đây là một dạng ô nhiễm dễ phát hiện và gây phản ứng mạnh của cộng đồng lân cận.
Các chất gây trở ngại cho quá trình xử lý
Lông vũ làm tắt nghẽn đường ống, dầu bơm.
        Các mảnh mỡ nhỏ làm nghẹt các đầu bơm.
        Cỏ rác làm nghẹt các đầu bơm.
        Các chất khí độc gây nguy hại trực tiếp đến công nhân vận hành.
        Các chất có khả năng gây cháy nổ.

đăng ký Sổ chủ nguồn thải Chất thải ác hại

0 nhận xét


Quý doanh nghiệp đang lo lắng phải mần răng để được cấp sổ chủ nguồn thải chất thải tai hại , làm thế nào để đảm bảo trước pháp luật về nguồn thải do công ty mình thải ra. Với hàng ngũ nhân viên chuyên nghiệp   công ty môi trường Cao Nguyên Xanh   sẽ giúp quý khách hàng hoàn tất việc đăng ký sổ chủ nguồn chất thải tai hại trong thời gian nhanh nhất.



1/ Đối tượng thực hiện



  • Các tổ chức , cá nhân  kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam sở hữu , điều hành các cơ sở sản xuất , kinh doanh dịch vụ nảy sinh , quản lý chất thải rắn nguy hại.
  • Cơ sở đã khởi công và đang trong thời kì chuẩn bị , đã hoàn tất thời kì chuẩn bị và đang trong thời kì xây dựng , chưa đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại. Đều phải tiến hành đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại.

2/ Quy trình công việc.



  •  Khảo sát tình hình hoạt động , quy mô sản suất , hiện trạng môi trường tại cơ sở.
  •  Xác định thành phần , khối lượng nguyên liệu sản xuất.
  •  Sự tác động của chất thải đến   môi trường .
  •  Xác định nguồn và khối lượng chất thải nảy sinh , chất thải khác trong quá trình sản xuất.
  •  Các thủ pháp phòng chống , giảm thiểu nảy sinh chất thải nguy hại.
  •  Phân loại các chất thải tai hại. Xác định mã đăng ký của các loại chất thải tai hại theo danh mục.
  •  Xây dựng các thủ pháp , quy trình phòng chống ứng phó khẩn cấp sự cố do chất thải tai hại gây ra.
  •  Lập thủ tục , hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải cho doanh nghiệp.
  •  Trình nộp lên sở tài nguyên   môi trường .

Châu Âu nhiều người vẫn gặp mặt với môi trường ô nhiễm không khí có hại

0 nhận xét

môi trường ô nhiễm không khí  môi trường   và sức khỏe môi trường thành phố


Gần một phần ba cư dân thành phố của châu Âu tiếp xúc với nồng độ quá mức của các hạt vật chất trong không khí ( PM ) , một trong những chất gây môi trường ô nhiễm quan yếu nhất về tách biệt đối với sức khỏe con người vì nó thâm nhập vào các bộ phận rất thính của hệ thống giao thông hô hấp. EU đã đạt được phát triển theo hướng đi lên theo   thông tin giám sát môi trường định kỳ   trong những năm qua để giảm môi trường ô nhiễm không khí gây hiện tượng axit hóa , nhưng một thông tin mới được công bố bữa nay của Cơ quan Môi trường châu Âu ( EEA ) cho thấy nhiều phần của châu Âu có vấn đề dai dẳng với nồng độ ngoài trời của PM và mặt đất ôzôn .


Báo cáo giám sát đánh giá tác động môi trường châu âu


 Image © glamismac


Ở nhiều nước , nồng độ chất gây môi trường ô nhiễm không khí còn trên mức giới hạn pháp lý và đề nghị được thiết lập để trông coi sức khỏe của người dân châu Âu. Thực hành   cam kết trông coi môi trường   trong thực tiễn , môi trường ô nhiễm không khí làm giảm tuổi thọ của con người bằng khoảng hai năm tại các thành phố môi trường ô nhiễm nhất và khu vực.


Jacqueline McGlade , EEA giám đốc điều hành Ủy môi trường Janez Potočnik cho biết:. "Báo cáo này là một lời nhắc nhỏm kịp thời như thế nào quan yếu là chất lượng không khí đối với sức khỏe của người dân của chúng ta Đây là lý do tại sao tôi muốn 2013 là năm của Air và lý do tại sao tôi sẽ tập trung vào việc tăng cường luật pháp chất lượng không khí của chúng ta để giải quyết các vấn đề chính xác ngày bữa nay. "


Giáo sư Jacqueline McGlade , EEA giám đốc điều hành , cho biết: "Chính sách Liên viên ngọc sáng Âu đã giảm phát thải nhiều chất môi trường ô nhiễm trong thập kỷ qua , nhưng chúng ta có khả năng đi xa hơn Ở nhiều nước , nồng độ chất gây môi trường ô nhiễm không khí vẫn còn trên mức giới hạn pháp lý và request được thiết lập để. Bảo vệ sức khỏe của người dân châu Âu. Trong thực tiễn , môi trường ô nhiễm không khí làm giảm tuổi thọ của con người bằng khoảng hai năm tại các thành thị môi trường ô nhiễm nhất và chuye. "


'Theo EEA Chất lượng không khí ở châu Âu - 2012 báo cáo "kiểm tra gặp mặt với công dân các chất môi trường ô nhiễm không khí và cung cấp một bản chụp của chất lượng không khí ở châu Âu.  báo cáo đánh giá tác động môi trường   được thiết kế để trợ giúp sự phát triển của chính sách không khí sạch hiệu quả hơn.



Phát hiện chính


•   vấn đề hạt ( PM )  là nguy cơ sức khỏe môi trường ô nhiễm không khí tai hại nhất trong Liên viên ngọc sáng Âu , dẫn đến tử vong sớm. Báo cáo ước lượng rằng trong năm 2010 , 21% dân số thành thị trong năm 2010 đã được gặp mặt với PM  10  nồng độ cao hơn so với nghiêm ngặt nhất , hàng ngày , giá trị giới hạn của EU được thiết kế để bảo vệ sức khỏe. Lên đến 30% dân số thành thị được gặp mặt với đẹp hơn PM  2 , 5  nồng độ cao hơn ( ít nghiêm ngặt ) giá trị giới hạn hàng năm của EU. Theo mức tham chiếu WHO , mà thậm chí còn chặt hơn những áp đặt của luật pháp EU , ứng với tăng 81% và 95% cư dân thành thị được gặp mặt với nồng độ PM vượt quá các giá trị biên soạn thiết lập để bảo vệ sức khỏe con người - nhấn mạnh sự giục giã của việc coi xét đến luật pháp không khí. 


•   Ozone ( O  3   )  có thể gây ra vấn đề sức khỏe đường hô hấp và dẫn đến tử vong sớm. Tiếp xúc ở các thành thị là rất cao - 97% dân số thành thị của EU đã được gặp mặt với O  3  nồng độ cao hơn mức tham chiếu WHO trong năm 2010 17% được gặp mặt với nồng độ cao hơn giá trị mục đích của EU cho O.  3  . Trong năm 2009 , 22% diện tích đất làm ruộng ở châu Âu đã được gặp mặt với nồng độ gây hại của O  3   , dẫn đến thiệt hại nông nghiệp.


•   nitơ dioxide ( NO  2   )  là nguyên do chính của hiện tượng phú dưỡng ( cây cỏ quá mức và tăng trưởng của tảo trong nước ) và quá trình axit hóa , và cũng góp phần vào sự hình thành của PM và O  3  . Trong năm 2010 , 7% người châu Âu sống ở các thành thị được gặp mặt với NO  2  mức độ trên các giá trị giới hạn của EU. Khí thải quốc gia của các oxit nitơ ở nhiều nước châu Âu vẫn vượt quá trần khí thải do luật EU và theo các thỏa thuận của liên hợp Quốc.


•   Benzo ( a ) pyrene ( BaP )  là một chất gây ung thư. Một tỷ lệ đáng kể dân số thành thị ở EU ( 20-29% giữa năm 2008 và 2010 ) được gặp mặt với nồng độ vượt quá giá trị mục đích của EU , phải được đáp ứng vào năm 2013. "một năm do đó nó sẽ bị lãng quên" , tăng phát thải BaP ở châu Âu trong những năm gần đây là một vấn đề quan tâm.


•     sulfur dioxit ( SO  2   )  là một câu chuyện thành công lớn: khí thải đã được giảm đáng kể trong những năm gần đây nhờ vào luật của EU request sử dụng khí thải chà công nghệ và hàm lượng sulfur trong nhiên liệu thấp hơn. Năm 2010 là năm đầu tiên mà dân số thành thị của EU đã không được gặp mặt với SO  2 nồng độ cao hơn giá trị giới hạn của EU.


•   Carbon monoxide  nồng độ , benzen và các kim khí nặng ( arsenic , cadmium , nickel , chì ) trong không khí ngoài trời nhìn chung là thấp , xứ sở và lời văn rời rạc trong EU , với vài exceedances giới hạn và mục đích các giá trị thiết lập bởi luật EU.



Các bước tiếp theo


Trong những năm gần đây , EEA đã công bố  báo cáo hàng năm về lượng khí thải gây môi trường ô nhiễm không khí và exceedances trần khí thải  dưới  trần khí thải quốc gia ( NEC ) Chỉ thị  . Cuối năm nay , EEA sẽ xuất bản một phân tích hồi cứu xem các mục đích sức khỏe và môi trường của NEC Chỉ trong năm 2010 đã được đáp ứng.


Ủy ban châu Âu đang để sẵn coi xét lại các luật không khí EU tham vấn với các bên liên tưởng và sẽ đặt một nhấn mạnh đặc biệt về chính sách môi trường ô nhiễm không khí vào năm 2013.



Nền


Chất lượng không khí kém có xác xuất gây ra bệnh tim , các vấn đề về đường hô hấp , ung thư phổi , khó thở và các bệnh khác. Một số chất gây môi trường ô nhiễm có xác xuất dẫn đến hiện tượng phú dưỡng , giảm năng suất cây trồng nông nghiệp , giảm sự phát triển rừng và có tác động đến khí hậu.  Phát thải các chất môi trường ô nhiễm đã giảm nhiều trong những năm gần đây , kết quả là cải thiện chất lượng không khí ở một số vùng.  Tuy nhiên , họ đã không xoành xoạch dẫn đến giảm nồng độ ứng với của chất gây môi trường ô nhiễm không khí. Các vấn đề chất lượng không khí liên tiếp đòi hỏi cố gắng hơn nữa trong việc giảm thiểu lượng khí thải của một số chất gây ô nhiễm.